SÁCH VÀ HOA

VUI MỪNG CHÀO ĐÓN

5 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Tài nguyên dạy học

    WEBSITE TIỂU HỌC

    Blog GV1 – Thư BGD

    ĐỊA CHỈ QUEN THUỘC

    Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Bình thường
    Đơn điệu
    Ý kiến khác

    Hỗ trợ trực tuyến

    • (Ngô Thị Hồng Thanh)

    THƯ VIỆN ẢNH

    Chu_de_den.flv GUI_NGUOI_TOI_YEU2.swf IMG_3345.jpg IMG_3347.jpg 13245901_1235336489832632_223002343_n.jpg Image.jpg Bieu_do_chu_viet_hs_2017.png Bieu_do_chu_viet_gv_2017.png IMG_0653.jpg IMG_3253.JPG DSC00784.JPG IMG_3229__copy.jpg Anh_1.png 270.jpg Hinh_anh0154.jpg Hinh_anh0152.jpg Hinh_anh0067.jpg Hinh_anh0051.jpg Co_giao_ban_em__Le_Thu.mp3 PICT00671.jpg

    Sắp xếp dữ liệu

    Chào mừng quý vị đến với Việc học là suốt đời.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > BÁC HỒ KÍNH YÊU >

    Người dẫn đường cho sự phát triển của dân tộc

    Nhân kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911-5/6/2011), TTXVN giới thiệu bài viết của giáo sư, tiến sĩ Mạch Quang Thắng, Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh với nhan đề: "Người tìm đường, mở đường và dẫn đường cho sự phát triển của dân tộc Việt Nam."

    Đáp ứng yêu cầu của lịch sử

    100 năm đã qua, kể từ ngày 5/6/1911, với tên là Văn Ba, anh thanh niên Nguyễn Tất Thành (sau này mang nhiều tên khác, trong đó có những cái tên nổi tiếng là Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh) rời  Cảng Sài Gòn ra đi tìm con đường mới để cứu nước.

    Cuối năm 1920, với sự kiện tham gia Đại hội Tua của Đảng Xã hội Pháp và ngay sau đó tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, Người đã chính thức tìm thấy con đường cứu dân, cứu nước đúng đắn - con đường theo cách mạng vô sản, theo chủ nghĩa Marx-Lenin, mở ra một hướng phát triển mới cho dân tộc Việt Nam. Suốt cả cuộc đời, Hồ Chí Minh hiến dâng cho sự chấn hưng của dân tộc Việt Nam , cho mục đích cuối cùng và cao cả là giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội-giai cấp, giải phóng con người. Hiện nay, dân tộc Việt Nam đang tiếp tục đi theo con đường phát triển của Hồ Chí Minh đã vạch ra. Điều này càng làm nổi rõ sự tác động lớn lao của người Anh hùng dân tộc vĩ đại [1] Hồ Chí Minh.

    Hồ Chí Minh là người đằm mình trong các sự kiện trọng đại nhất của dân tộc Việt Nam và của các biến cố trên thế giới. Hồ Chí Minh là một phần tác động tích cực cho sự phát triển của lịch sử Việt Nam thời hiện đại và cũng là một phần nhân tố thúc đẩy lịch sử tiến hóa xã hội của loài người từ thế kỷ XX trở đi. Hồ Chí Minh thường đi trước, đi trong, hoặc song hành, chứ không đi sau các sự kiện lớn của dân tộc và trên thế giới. Hồ Chí Minh tác động mạnh mẽ vào chúng cũng như các biến cố của dân tộc và nhân loại có một chiều khác, ngược trở lại, tác động vào Hồ Chí Minh.

    Điểm đầu tiên tôi muốn nhấn mạnh trong sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh là Người đã có ý thức rõ ràng đi tìm một con đường cứu nước, cứu dân mới vào đầu thế kỷ XX khi các con đường cứu nước do các vị cách mạng tiền bối nêu lên và thực thi đều bị bế tắc. Chắc chắn rằng, phải có một tư duy mẫn cảm với thời cuộc, phải có một tinh thần vượt trội thấm nhuần chủ nghĩa yêu nước nồng nàn, lòng dũng cảm, ý chí lớn lao và tinh thần phê phán đúng đắn thì mới có được sự ra đi của Người vào ngày 5/6/1911.

    Trong cả thời thơ ấu, Người đã được tận mắt chứng kiến cảnh đất nước rên xiết dưới gông cùm của chế độ thực dân-phong kiến, thấy được cảnh người lao động bị áp bức, bóc lột, được nghe các bậc cha anh nặng lòng yêu nước bàn luận về thế sự…rồi vào trạc tuổi 13 đã nảy sinh muốn đi sang Pháp và các nước phương Tây tìm hiểu những điều ẩn giấu đằng sau những từ “Tự do-Bình đẳng-Bác ái” - vốn là khẩu hiệu cao đẹp của Đại Cách mạng Pháp.

    Hồ Chí Minh tự nguyện từ bỏ được tư vị của một anh học sinh con quan trên con đường thường thấy của nhiều con quan phong kiến lúc đó là học tập để trở thành trí thức thuộc địa-phong kiến, trở thành một công chức của chính quyền thực dân ở Đông Dương; không chấp nhận con đường “Đông Du” đang hấp dẫn đối với nhiều thanh niên (sang Nhật Bản học tập) do Cụ Phan Bội Châu khởi xướng và dẫn dắt đầu thế kỷ XX.

    Vào thời đó, yêu nước, thậm chí yêu nước nhiệt thành thì có nhiều người, đâu chỉ có Nguyễn Tất Thành, nhưng yêu nước để có một tư duy mẫn cảm, tư duy phê phán sắc sảo về các con đường cứu nước trước đấy hoặc đương thời của các bậc cha anh rồi ra đi tìm con đường cứu nước mới, thì dường như chỉ có ở Nguyễn Tất Thành. Như vậy là yêu cầu cho sự mở đường phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam đã được đặt vào đúng Nguyễn Tất Thành và Người đã nhận trọng trách đó suốt cả cuộc đời oanh liệt đầy gian khổ hy sinh của mình.

    Điểm thứ hai trong sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh là không phải bất cứ ai đều thành công trong việc đi tìm con đường cứu nước mới. Những bậc anh hùng hào kiệt của Cần Vương như những ngôi sao lóe lên trên bầu trời đất Việt khoảng hơn 10 năm cuối thế kỷ XIX. Phong trào Cần Vương bị thực dân Pháp dập tắt nhưng ngọn lửa yêu nước không tắt. Đầu thế kỷ XX, các phong trào mới xuất hiện, mới cả về con người lãnh đạo nhưng quan trọng hơn là mới cả về tính chất, về hệ tư tưởng và đương nhiên mới cả về cách tổ chức lực lượng.

    Chống thực dân Pháp, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc thì tất cả các phong trào yêu nước đều giống nhau, nhưng rồi để thiết lập một Nhà nước Việt Nam như thế nào, một chế độ chính trị ra sao, tập hợp lực lượng nào, theo sự chỉ dẫn của lý luận chính trị nào thì khác nhau một trời một vực. Chống Pháp mượn danh nghĩa của nhà vua rồi trở về chế độ phong kiến (Cần Vương) thì đã lỗi thời, không hợp xu thế. Mà đã như thế thì khó tránh khỏi thất bại.

    Chính trong bối cảnh đó, xuất hiện luồng gió mới mà những trí thức Việt Nam yêu nước là những người cảm nhận được trước hết. Sẵn lòng yêu nước, nhạy cảm với thời cuộc, qua tiếp xúc với một số sách báo tiếng Pháp, tiếng Trung Hoa, họ bắt gặp tư tưởng dân chủ tư sản. Dù thực dân Pháp cố tình bưng bít như thế nào đi chăng nữa song những tư tưởng của Cách mạng Pháp năm 1789, của Cách mạng Nga (1905-1907), của trào lưu tư tưởng tư sản Trung Quốc, nhất là cuộc Cách mạng Tân Hợi năm 1911 với tư tưởng “Tam dân” của lãnh tụ Tôn Trung Sơn... vẫn dội vào Việt Nam. Hơn nữa, cùng với nhịp điệu ngày càng tăng của sự khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam ngày càng phân hóa mạnh mẽ hơn.

    Đầu thế kỷ XX, những giai cấp, tầng lớp mới xuất hiện: giai cấp vô sản, tầng lớp tiểu tư sản, trí thức. Đồng thời, nhiều sĩ phu vốn thuộc thành phần giai cấp phong kiến, theo Nho học, sau bao trăn trở trước thời cuộc, đã chuyển mình sang lập trường dân chủ tư sản. Nổi bật nhất đầu thế kỷ XX là phong trào cứu nước do Cụ Phan Bội Châu lãnh đạo với mục đích giành độc lập dân tộc bằng bạo động vũ trang để lập chế độ đại nghị cộng hòa. Cụ Phan Bội Châu đề ra các phong trào: Đông Du (1906-1908), Việt Nam Quang phục hội (1912).

    Cùng với với các phong trào của Cụ Phan Bội Châu là các cuộc vận động Duy Tân (1906-1908) do Cụ Phan Châu Trinh lãnh đạo và phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục (1907) cổ vũ lòng yêu nước, vận động học quốc ngữ, vận động thực thi đời sống mới, v.v. Ngọn cờ cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến đã bị bẻ gẫy. Ngọn cờ cứu nước theo hệ tư tưởng tư sản tuy là mới ở Việt Nam nhưng cũng không đáp ứng nổi yêu cầu phát triển của dân tộc.

    Phong trào của Cụ Phan Bội Châu hoạt động theo lối vũ trang bạo động thì bị thực dân Pháp đàn áp đã đành, nhưng các phong trào yêu nước khác theo lối cải lương, cải cách (“Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh,” “Bất bạo động, bạo động tắc tử” - Phan Châu Trinh) mà cũng bị thực dân Pháp không cho đất sống. Anh dũng có thừa, máu đào của các bậc tiên liệt đã đổ xuống nhưng cây độc lập-tự do vẫn không ra hoa kết trái.

    Nguyễn Tất Thành ra đi tìm con đường cứu nước mới ở vào quãng thời gian đặc biệt đó của lịch sử dân tộc Việt Nam. Ở Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh hội đủ những yếu tố cần thiết cho sự dấn thân vào quá trình tìm đường, mở đường, dẫn đường cho dân tộc Việt Nam phát triển: ý chí lớn lao, tinh thần ham học hỏi, sẵn sàng vượt qua bao gian truân, từ một anh thanh niên học sinh gày gò, mảnh khảnh tự nguyện hòa vào cuộc sống của người lao động chân tay (thuộc về giai cấp cần lao) để trực tiếp cảm nhận về thời cuộc... Lúc Người rời bến Nhà Rồng để đi sang Pháp và các nước phương Tây, chỉ với hai bàn tay và khối óc đầy nhiệt huyết sẵn sàng chấp nhận mọi hiểm nguy. Đến nước nào, Người cũng làm việc để kiếm sống và hoạt động. Đi đến đâu Người cũng tự nghiên cứu, tự học.

    Cả cuộc đời của Người là sự tu dưỡng, rèn luyện, coi tất cả các sự kiện của cuộc sống là những bài học sống động cho mình. Hồ Chí Minh không có bằng cấp của học đường, nhưng ở Người hội đủ những tri thức uyên bác, cổ kim Đông-Tây, là sự chắt lọc, tiếp biến văn hóa, đúc kết thành khối tri thức và bản lĩnh chính trị, nhân cách cao đẹp của con người Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh. Nguyễn Ái Quốc tiếp nhận chủ nghĩa Marx-Lenin qua đó tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn là bởi những yếu tố đó, khác với những người Việt Nam ở Pháp lúc đó cũng giỏi giang nổi tiếng: Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh…

    Điểm thứ ba trong sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh là tìm được con đường cứu nước đúng đắn rồi, không phải cứ thế con đường đó được vận hành suôn sẻ vào Việt Nam. Sau năm 1920 là thời gian trường kỳ truyền bá, huấn luyện, tổ chức để đưa con đường cứu nước đúng đắn về thực hành trên đất nước Việt Nam, mà một vấn đề có tính then chốt nhất là thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam - một tổ chức có tính quyết định đến sự thành bại của cách mạng Việt Nam, một tổ chức vạch đường, chỉ lối, lãnh đạo đoàn kết toàn dân tộc, hòa cùng thời thế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đoàn kết trong nước với đoàn kết quốc tế để cho dân tộc Việt Nam phát triển trên con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

    Hồ Chí Minh mở ra con đường mới và dẫn dắt toàn Đảng, toàn dân đi theo con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội với cả trái tim đầy nhiệt huyết, bộ óc sáng suốt và gương sáng cả cuộc đời con người luôn luôn vươn tới những giá trị của Chân, Thiện, Mỹ, của đạo đức cách mạng trọn vẹn của cuộc đời. Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật tiêu biểu trong lịch sử nhân loại có tác động mãnh liệt vào tiến trình phát triển.

    Sự nghiệp của Hồ Chí Minh, con đường Hồ Chí Minh tìm thấy và dẫn dắt mọi người dân Việt Nam yêu nước dựa vào nền văn hoá mà trên đấy biểu đạt những giá trị toàn cầu, những khát vọng của con người, của các dân tộc khác nhau, có bản sắc, cốt cách, đặc tính khác nhau nhưng thống nhất, hài hoà trong những giá trị chung nhất, tốt đẹp nhất mà con người toàn nhân loại và các dân tộc trên thế giới khát khao vươn tới. Đó là sự thống nhất trong đa dạng. Người tìm đường, mở đường và dẫn đường mang tên Hồ Chí Minh đã khuếch những cái đa dạng ấy lên, kết dính sự thống nhất đó vào một khối văn hóa đầy sức sống để bảo tồn, thúc đẩy chân, thiện, mỹ thúc đẩy cho sự chấn hưng đất nước Việt Nam trong các thời kỳ cách mạng.

    Hồ Chí Minh luôn luôn sống trong những nhịp đập của đất nước, vì sự nghiệp của Người, tư tưởng của Người vẫn đồng hành cùng dân tộc. Điều tuyệt diệu là ở chỗ đó. Nếu thân thế và sự nghiệp của Hồ Chí Minh, tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là của thời gian Hồ Chí Minh sống thôi, thì giá trị cuộc đời Hồ Chí Minh không lớn lắm. Hồ Chí Minh để lại một sự nghiệp, một tư tưởng ngời sáng, trở thành giá trị văn hóa, mà khi đã trở thành giá trị văn hóa thì có sức sống mãnh liệt, có sức lan tỏa, thẩm thấu vô biên, nhập vào các giá trị truyền thống văn hóa của dân tộc và nhân loại.

    Sự tiếp nối giá trị của con đường

    Hồ Chí Minh không phải là một nhân vật huyền thoại theo nghĩa là nhiều điều không có thực mà cái đức, cái tâm, cái tầm, cái trí, cái tài của Hồ Chí Minh đã thành giá trị thực luôn hiển hiện trong tâm khảm của mỗi một người dân yêu nước, trong các thế hệ người Việt Nam. Sự nghiệp của Hồ Chí Minh còn dang dở, và người Việt Nam yêu nước các thế hệ, khắp các phương trời đang tiếp bước Hồ Chí Minh. 

    Tư tưởng Hồ Chí Minh có trong hành trang của dân tộc Việt Nam và nhân loại cần lao tiến bước vào văn minh, tiến bộ. Cả cuộc đời Hồ Chí Minh chính là một thông điệp cho sự phát triển. Và, chính vì như vậy, giá trị cuộc đời Hồ Chí Minh trở thành một tài sản tinh thần quý báu cho dân tộc Việt Nam và - rộng hơn nữa - cho nhân dân lao động trên toàn thế giới.

    Hồ Chí Minh qua đời năm 1969, lúc sự nghiệp cách mạng nước ta đang ở vào thời điểm rất cam go: cuộc chống Mỹ, cứu nước đang ở vào giai đoạn quyết liệt nhất sau Mậu Thân; sự nghiệp xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, hậu phương của tiền tuyến lớn miền Nam cũng đang gặp nhiều khó khăn; sự bất đồng trong phong trào cộng sản, công nhân quốc tế, phong trào xã hội chủ nghĩa diễn ra ngày càng trầm trọng, đặc biệt là đối với hai Đảng Cộng sản và hai Nhà nước Liên Xô và Trung Quốc. Điều này trước hết ảnh hưởng không thuận lợi đến sự ủng hộ, chi viện cho cách mạng Việt Nam.

    Đi theo con đường của Người, thực hiện tốt sự chỉ dẫn của Hồ Chí Minh ghi trong tài liệu “Tuyệt đối bí mật” (Di chúc), cách mạng Việt Nam đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách và giành được nhiều thắng lợi: toàn thắng trong sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc; đưa cả nước lên chủ nghĩa xã hội, đổi mới toàn diện đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, phấn đấu đến năm 2020 về cơ bản đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Trong những cơn biến động chính trị phức tạp hai thập niên cuối cùng của thế kỷ XX và trong dòng xoáy của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, Việt Nam biết vượt qua thử thách, nắm bắt thời cơ để ổn định chính trị, phát triển bền vững, thoát ra khỏi tình trạng kém phát triển...

    Có được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử như vậy là do Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam đoàn kết một lòng, tin theo chủ nghĩa Marx-Lenin, coi tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Marx-Lenin là tài sản tinh thần quý báu của Đảng và dân tộc trên con đường phát triển. Sự nghiệp đổi mới đất nước càng đi vào chiều sâu thì chúng ta càng thấy sự sáng suốt của Đảng khi quyết định lấy chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động.

    Sự nhân lên sức mạnh ý nghĩa của sự kiện lịch sử ngày 5/6/1911 cách đây 100 năm cũng như sự tiếp nối con đường của Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay thể hiện chủ yếu ở chỗ:

    Trước hết, kiên định, kiên định hơn nữa; sáng tạo, sáng tạo hơn nữa. Đó là sự kiên định con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, thực hiện tốt Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011).

    Mọi sự nghiêng ngả con đường đều không đúng với giá trị vĩnh hằng của cuộc đời người Anh hùng dân tộc vĩ đại và Nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh. Thông điệp của Hồ Chí Minh cho sự phát triển dân tộc ta trong tương lai vẫn là như vậy, không có gì khác. Vấn đề là ở chỗ, cần thấu hiểu và vận dụng thật đúng sự biện chứng phát triển trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

    Sự sáng tạo, đó cũng là điều Hồ Chí Minh mong khi Người nhấn rất mạnh tới việc đưa lý luận soi đường cho thực tiễn và thực tiễn bổ sung cho lý luận, gắn lý luận với thực tiễn, luôn luôn đổi mới để phát triển cho phù hợp với hoàn cảnh từng lúc, từng nơi. 

    Sự phát triển không đồng nghĩa với bảo thủ, giáo điều, cứng nhắc, trì trệ. Sự phát triển phải luôn luôn dựa trên phương châm mà Hồ Chí Minh đã nêu: “Dĩ bất biến ứng vạn biến”. Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong giai đoạn hiện nay khi các trào lưu xã hội chủ nghĩa trên thế giới đang nở rộ một cách phong phú, khi các cách thức, biện pháp, con đường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa mácxít, không mácxít trên thế giới diễn ra trăm nẻo ngả, muôn dạng; khi các thế lực thù địch với sự nghiệp cách mạng nước ta đang ra sức chống phá quyết liệt, tinh vi.

    Không ở đâu như trên lĩnh vực cách mạng xã hội chủ nghĩa, xây dựng một xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa, lại đòi hỏi sự sáng tạo cực kỳ lớn lao của toàn Đảng, toàn dân Việt Nam đến như vậy. Đâu đó trên thế giới vẫn còn dư âm không hay của sự sụp đổ mô hình xã hội chủ nghĩa Xôviết. Loài người tất yếu sẽ tiến đến chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Đó là sự đúng đắn của lý luận chủ nghĩa cộng sản khoa học. Lịch sử Việt Nam đã chối bỏ một cách không ngẫu nhiên các con đường phát triển trước con đường mà Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra. Nhưng, để tiếp nối con đường của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh một cách thành công thì cả một quá trình sáng tạo ở phía trước, mà những điểm sau đây nên chú ý:

    (i) Không bao giờ được sao nhãng mục tiêu. Đó là vấn đề có tính nguyên tắc, vấn đề đại sự. Mọi cái khác đều có thể là phương tiện, nhưng những cái gọi là phương tiện ấy đều có tính hướng đích, hướng mục tiêu.

    (ii) Những nhiệm vụ đặt ra phải phù hợp với từng hoàn cảnh, từng thời kỳ; thời cuộc mới thì phải có chính sách mới cho phù hợp, nghĩa là phải luôn luôn đổi mới, đổi mới không ngừng; đổi mới là động lực và là điều kiện không thể thiếu của sự phát triển.

    (iii) Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền phải luôn luôn chú ý nâng cao tầm trí tuệ, nắm bắt những vấn đề nảy sinh từ sự vận động biện chứng và phát triển trên cơ sở học thuyết Marx-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với sự nắm bắt những tri thức mới của thế giới trong từng thời kỳ, tổng kết thực tiễn một cách nhanh nhạy, đúng đắn; không chủ quan, duy ý chí, nôn nóng.

    (iv) Muốn sáng tạo, phải tạo ra một cái nền dân chủ, dân chủ đích thực để tìm ra chân lý; coi đồng thuận xã hội không có nghĩa là sự thuần khiết về tư duy khuôn sáo, công thức, giáo điều, biến những vấn đề lý luận của C.Marx, Ph.Engels, V.I.Lenin, Hồ Chí Minh và các nhà tư tưởng khác thành kinh thánh, cứng nhắc từng câu từng chữ. Nếu biến những vấn đề lý luận đó thành công thức, kinh thánh thì vừa không đúng với sự mong muốn của các vị ấy, vừa biến những vấn đề lý luận ấy thành những vấn đề không có sức sống trong khi đó cuộc sống không ngừng vận động, biến đổi. 

    Chẳng thế mà Hồ Chí Minh là một người rất tôn trọng sự khác biệt của từng con người trong cuộc sống đó sao. Sáng tạo có khi có sự cựa quậy, và thậm chí có khi thất bại, miễn là sau mỗi thất bại thì phải biết sửa chữa, điều chỉnh bởi vì như ở điểm (i) đã viết là phải luôn luôn không được phép sao nhãng mục tiêu; điều này khác với với cái tâm và sự hành động của những người ác ý, những người không có thiện cảm với chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa đối với Việt Nam.

    (v) Sự sáng tạo đòi hỏi phải đi liền với bản lĩnh chính trị vững vàng. Ở đây, bản lĩnh chính trị đó trước hết là ở cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị, trước hết là ở Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền. Có thể coi đội ngũ cán bộ chủ chốt của Đảng là đội ngũ tinh hoa trong việc thúc đẩy sự phát triển của dân tộc Việt Nam trên con đường xã hội chủ nghĩa theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

    Hai là, đặc biệt chú trọng xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, trong đó vấn đề then chốt là xây dựng và chỉnh đốn Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều này hoàn toàn phù hợp với quan điểm của Hồ Chí Minh coi Đảng như người cầm lái cho con tàu đi, coi việc “trước hết”, việc thường xuyên là chỉnh đốn Đảng, là điều trăn trở khôn nguôi của Người. Cần đề phòng và chống sự sai lầm về đường lối và thoái hóa, biến chất Đảng. Điều này là nguy cơ trong giai đoạn hiện nay với sự mở cửa, kinh tế thị trường, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế.

    Điều đặc biệt quan trọng nhất hiện nay để bảo đảm cho con đường của Hồ Chí Minh được tiếp nối một cách đúng đắn trên phương diện xây dựng Đảng là ở hai vấn đề trọng yếu: (i) Chống đặc quyền, đặc lợi ở trong Đảng và (ii) Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên thật sự trong sạch, vững mạnh.

    Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền từ năm 1945 trở đi và từ năm 1988 là chính đảng duy nhất trong xã hội Việt Nam. Vai trò cầm quyền, lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam không tự nhiên mà có và không phải cứ tự nhận mà được. Sở dĩ có được vai trò đó là do quá trình phấn đấu không mệt mỏi, vượt qua bao thử thách nghiệt ngã trong các thời kỳ cách mạng của Đảng và Đảng đã được nhân dân tin yêu trao trọng trách lãnh đạo.

    Đảng Cộng sản Việt Nam đã biến cái có thể thành hiện thực. Nhưng, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng có thể biến hiện thực hiện nay thành con số không, nghĩa là không được nhân dân tin yêu nữa, bị mất vai trò cầm quyền, vai trò lãnh đạo nếu Đảng không trong sạch, vững mạnh nữa, nếu Đảng cứ tự “ban phát” đặc quyền, đặc lợi làm cho dân xa rời, làm cho dân oán ghét, mà nhiều người gọi đó là quá trình “Đảng tự diễn biến.”

    Do Đảng cầm quyền và là Đảng duy nhất trong xã hội Việt Nam hiện nay, cho nên bên cạnh Đảng có nhiều lợi thế để lãnh đạo đất nước phát triển thì cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ làm mất dân chủ trong xã hội, nguy cơ làm cho Đảng dễ xa dân và đặc biệt là dễ lâm vào tình trạng đặc quyền đặc lợi; cán bộ, đảng viên tham nhũng. 

    Đảng cầm quyền nhưng Đảng phải thực sự hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật - điều này đã được ghi vào trong Điều lệ Đảng và trong Cương lĩnh của Đảng, nhưng cần được thực hiện một cách thật sự nghiêm túc trong thực tế. Cần đề phòng và khắc phục việc Đảng đưa ra những quyết sách không phù hợp với luật pháp, tự cho mình hưởng đặc quyền, đặc lợi về vật chất, quên mất Đảng phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc.

    Đảng phải là tổ chức “chân chính cách mạng” [2] , “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng” [3] , Đảng phải làm “công bộc”, làm “đày tớ”, làm “trâu ngựa” cho nhân dân (Những chữ Hồ Chí Minh dùng) chứ không phải Đảng đưa ra những quy định để cho những cán bộ chủ chốt hưởng lợi về vật chất trong khi đời sống của nhân dân nói chung và của đại đa số cán bộ, đảng viên vẫn còn nhiều khó khăn. Những đặc quyền, đặc lợi, làm không đúng với Hiến pháp và pháp luật chắc chắn không tránh khỏi con mắt tinh tường khắp nơi của nhân dân, nhân dân sẽ cảm nhận được một cách trực tiếp Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng như thế nào, dẫn đến kết quả là dân sẽ xa Đảng, và đến lúc đó chế độ chính trị sẽ sụp đổ, mọi thành quả của cách mạng mà Đảng và nhân dân ta đã khổ công giành được qua bao nhiêu thời kỳ cam go sẽ nhanh chóng bị đổ xuống sông xuống biển. Nguy cơ Đảng thoái hóa dẫn đến mất chế độ chính trị đã được Đại hội toàn quốc lần thứ X và XI cảnh báo.

    Sự nghiệp cách mạng thành hay bại phụ thuộc vào yếu tố đội ngũ cán bộ, đảng viên vì nhân sự nào thì quan điểm ấy, nhân sự nào thì đường lối ấy, nhân sự nào thì phong trào ấy… Mỗi một cán bộ, đảng viên phải luôn luôn học tập một cách thực sự tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, có hành động thiết thực học tập có kết quả tư tưởng và gương Hồ Chí Minh, như thế thì mới tiếp nối được con đường của Người đã khổ công tìm thấy và dẫn dắt dân tộc Việt Nam phát triển bao nhiêu năm nay.

    Hồ Chí Minh là người có đức dày, có tâm lành, có trí sáng, có tầm cao, có tài kinh bang tế thế, có ý chí lớn lao dời non lấp bể. Hồ Chí Minh là người mang đầy khát vọng lớn lao. Khát vọng của Người không phải là nhằm lo lấy cái đích là làm cho bản thân giàu có về vật chất, được ăn ngon, mặc đẹp, có nhà to cửa rộng, nhà lầu xe hơi, có quyền cao chức trọng... 

    Khát vọng của Hồ Chí Minh, như Người nói một cách nôm na, đó là sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành.

    Trong Tài liệu Tuyệt đối bí mật (Di chúc), Hồ Chí Minh còn nêu “điều mong muốn cuối cùng” là “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới” [4] . Học Hồ Chí Minh là học sự thoát khỏi mọi cám dỗ cá nhân, đúng như Hồ Chí Minh lấy lời Mạnh Tử khuyên cán bộ, đảng viên là “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Hồ Chí Minh dùng quyền lực của nhân dân uỷ thác cho mình với cái chức trách là Chủ tịch Chính phủ rồi Chủ tịch nước để mưu việc lớn cho dân, cho nước, cho người lao động trên toàn thế giới. 

    Trong Di chúc, Hồ Chí Minh viết đoạn bổ sung năm 1968: “Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng, không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa” [5] . Đó là sự tiếc nuối của bậc đại nhân, đại trí, đại dũng, sự tiếc nuối của một Anh hùng dân tộc vĩ đại và đồng thời là Nhà văn hóa kiệt xuất.

    Cả cuộc đời Hồ Chí Minh vất vả, đầy lo toan cho sự nghiệp lớn lao. Hồ Chí Minh ra nước ngoài tìm con đường cứu nước mà trong túi không có một xu, phải đem sức vóc thư sinh nai lưng làm những công việc nặng nhọc kiếm tiền để sống và hoạt động. Hồ Chí Minh hai lần bị cầm tù, bị một án tử hình vắng mặt; chịu nhiều cảnh thiếu thốn, có lần trong tù “Gầy đen như quỷ đói/Ghẻ lở mọc đầy thân”, răng rụng mất mấy chiếc, mắt mờ, bị lao phổi. Hồ Chí Minh là người có đầy nghị lực để chiến thắng bệnh tật và tai ương. Mỗi cán bộ, đảng viên chỉ cần làm được một cách có hiệu quả một phần nhỏ theo gương đạo đức Hồ Chí Minh thôi thì sự nghiệp cách mạng Việt Nam trong giai đoạn tới chắc chắn sẽ phát triển mạnh. Nhưng rất tiếc, tình hình hiện nay chưa được như vậy. 

    Sự tiếp nối sự nghiệp Hồ Chí Minh với bản lĩnh Hồ Chí Minh để vượt qua mọi thử thách vẫn còn lắm gian nan nhưng chắc chắn Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam sẽ giành thắng lợi nếu kiên trì đi theo con đường mà Hồ Chí Minh đã vạch ra, nếu Đảng trong sạch, vững mạnh, có tầm cao trí tuệ, có bản lĩnh chính trị vững vàng, nếu toàn dân tộc đoàn kết thành một khối vững chắc, biết vượt qua thử thách, nguy cơ, biết tận dụng thời cơ để phát triển nhanh và bền vững.

    [1] Trong Điếu văn của Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam tại Lễ truy điệu Hồ Chí Minh ngày 9/9/1969 có đoạn: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta.”

    Tháng 12/1976, trong Báo cáo chính trị của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng, có đoạn: “Thắng lợi to lớn của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước cũng như những trang sử chói lọi của cách mạng Việt Nam ngót nửa thế kỷ nay mãi mãi gắn liền với tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, người khai sinh nền Cộng hòa Dân chủ Việt Nam, người vun trồng khối đại đoàn kết dân tộc và xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, vị lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân và nhân dân ta, người anh hùng dân tộc vĩ đại, người chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế."

    Như vậy, lần đầu tiên, qua văn kiện của Ban chấp hành Trung ương Đảng và ở tầm cao nhất, qua văn kiện của Đại hội toàn quốc, Đảng đã chính thức ghi nhận Hồ Chí Minh là “người anh hùng dân tộc vĩ đại.” “Danh hiệu” có từ sớm, còn đến năm 1987, UNESCO mới ghi nhận Hồ Chí Minh là “ Anh hùng giải phóng dân tộc và là Nhà văn hóa kiệt xuất Việt Nam.”/.


    Nhắn tin cho tác giả
    Ngô Thị Hồng Thanh @ 22:29 28/05/2011
    Số lượt xem: 1484
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến